CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG PHỤC CHẾ MÀU TRONG QUÁ TRÌNH IN

27/12/2021
Tài liệu

In là quá trình ta nhìn thấy được màu sắc thực sự, không còn trên file qua màn hình máy tính. Chất lượng phục chế màu sắc cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi quá trình này, vì vậy ở bài viết này Prima.vn cùng bạn đọc điểm qua một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng phục chế màu trong quá trình in ấn.

1. Thứ tự in chồng màu

Khi in chồng 4 màu cơ bản với nhau, có 24 khả năng thay đổi thứ tự in chồng màu. Hầu hết các máy in sử dụng một trong số 3 kiểu thứ tự in chồng màu: Vàng – Magenta – Cyan – Đen (YMCK); Cyan – Magenta – Vàng – Đen (CMYK) và Đen – Cyan – Magenta – Vàng (KCMY). Tùy theo khuyến cáo của nhà sản xuất mực in, thói quen hay đặc điểm của tài liệu in mà các nhà in sẽ chọn lựa thứ tự chồng màu.

2. Các yếu tố quang học

Các yếu tố này được tạo ra bởi các thuộc tính quang học của lớp mực in.

– Độ trong suốt: Màu in có khuynh hướng chuyển sang tông màu của mực sau cùng nếu các mực đó có đặc tính không trong suốt hoàn toàn. Tương tự, nếu các màu in không trong suốt được in phủ lên nền màu Đen thì mật độ đo được từ 4 màu sẽ giảm so với in màu Đen phủ lên những màu đó, đặc biệt khi màu Vàng là màu in cuối. Thứ tự chồng màu KCMY có thể làm giảm mật độ tối đa khoảng 0.4 so với thứ tự chồng màu YMCK.

– Độ bóng: Một số màu in (đặc biệt là màu Vàng) có độ bóng cao hơn những màu khác. Bố trí màu Vàng in sau cùng có thể làm tăng độ bóng của tờ in.

– Sự nhũ hóa: Một số loại mực trong thành phần cấu tạo có các chất tạo màu đặc biệt. Trong một vài trường hợp, những chất này có thể di chuyển lên bề mặt của lớp mực in và làm thay đổi màu của lớp mực. Có thể giảm thiểu vấn đế này bằng cách in mực đo trước trong thứ tự in.

3. Các vấn đề xuất hiện trong quá trình sản xuất

Trong quá trình sản xuất, khi máy in, mực in, giấy in và bản kẽm được kết hợp với các điều kiện sản xuất sẽ xuất hiện nhiều vấn đề như sau:

  • Sự truyền mực: Khả năng truyền một lớp mực sang một lớp mực ướt được được in trước đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Thứ tự in màu ảnh hưởng đến sự truyền mực này nếu mực in không được sắp xếp theo đúng độ sệt của nó. Lớp mực in đầu tiên nên có độ dính (độ sệt) cao nhât, mỗi lớp mực kế tiếp có độ dính hơi thấp hơn.
  • Đúp nét: trong một số trường hợp, hiện tượng đúp nét gây bởi truyền động của máy in, tấm cao su.v.v.. sẽ gây ra sự gia tăng tầng thứ làm cho hình ảnh được cảm nhận đậm hơn, đặc biệt khi in các lớp mực dày. Để giảm thiểu ảnh hưởng của nó, cần in màu quan trọng nhất ở đơn vị in cuối cùng (ví dụ như màu Magenta trong một catalog chứa nhiều tông màu da hoặc màu Đen trong tạp chí có nhiều chữ).
  • Những vấn đề về cơ khí: nếu một đơn vị in bị móp hay bị lỗi cơ khi gây nhòe màu hoặc chồng không chính xác sẽ tạo ra các ảnh hưởng về cảm nhận màu. Vấn đề có thể được giảm thiểu bằng cách in màu Vàng – màu ít được nhận rõ ràng bằng mắt nhất trên các đơn vị bị lỗi.
  • Sự lem nhiễm mực: Khi in số lượng lớn với các lớp mực dày thì sự lem nhiễm dần dần của một loại mực bởi một loại mực trước đó đôi khi có thể thấy được. Sự lem nhiễm này có thể xảy ra dưới dạng màu Magenta lem nhiễm có thể hạn chế bằng cách in các màu sáng hơn trước các màu tối, chẳng hạn in màu Vàng trước màu Đen sẽ không đưa đến sự lem nhiễm đáng chú ý, nhưng ngược lại có thể gây nên sự lem nhiễm nghiêm trọng.
  • Các sọc gây ra do mực bị truyền ngược: có nhiều yếu tố khác nhau gây nên hiện tượng sọc do mực truyền ngược. Các mảng màu lớn chứa khoảng 100% màu Cyan và 70% Magenta hầu như đều có hiện tượng này. Việc thay đổi thứ tự in màu để lớp mực dày in chồng lên lớp mực mỏng sẽ giảm thiểu được hầu hết hết đường sọc. Việc in các màu thường gây sọc (thường là màu Cyan) cuối cùng sẽ loại trừ được sọc trong màu đó và các màu in chồng của nó nhưng đôi khi lại nảy sinh vấn đề ở một màu khác, đôi khi có thể phải thay đổi giấy.
  • Độ phủ mực: Các loại mực với độ phủ mực cao thường gây nên sự biến dạng trên giấy in có định lượng thấp. Để chồng màu dễ dàng cần phải in loại mực này sau cùng trong thứ tự in chồng màu. Để khắc phục tình trạng này người ta thường in màu Vàng sau cùng để giảm moire và làm tăng khả năng chống ma sát.

Một số người cho rằng màu Vàng được in với độ dày lớp mực cao hơn các màu in chồng của nó nhưng đôi khi khi lại nảy sinh vấn đề về truyền mực và sự gia tăng tầng thứ trong các điều kiện in bình thường. Một số khác cũng cho rằng màu Vàng khó truyền hơn nên phải được in sau cùng. Tuy nhiên nếu thay đổi độ sệt theo khuynh hướng màu in sau có độ sệt nhỏ hơn màu in trước thì ta vẫn có thể truyền mực in màu Vàng tốt.

  • Cân bằng xám: SWOP (tiêu chuẩn Mỹ đối với in Offset cuộn) đề nghị nên chọn thứ tự in chồng màu để đạt được cân bằng xám (và đạt được sự truyền mực tối đa). Tuy nhiên để tối đa việc truyền mực cho 2 màu (ví dụ như màu Vàng và Cyan) thì không có nghĩa là việc truyền mực giữa các màu in chồng khác (màu Vàng và Magenta; màu Cyan và Magenta) cũng đạt được tối đa.

Cân bằng xám có thể được thiết lập trong quá trình chế bản với các điều kiện in cụ thể. Nếu quá trình chế bản tạo ra cân bằng xám cho các thứ tự in chồng màu CMYK nhưng khi in lại theo thứ tự KCMY thì có nhiều khả năng không đạt được cân băng xám.

Ngoài ra còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến thứ tự in chồng màu như dễ rửa máy (in các màu lợt trước các màu đậm sau), in các màu quan trọng sau cùng và thói quen của thợ in.

Một số người cho rằng màu Đen đặt sau màu Vàng trong chuỗi là phù hợp nhất. Sự mất đi mật độ tối đa (Dmax) trong việc in màu Vàng trên màu Đen làm cho vấn đề tương phản in và phục chế tông màu trở nên tồi tệ thêm.

Dù cho một nhà máy in chọn thứ tự chồng màu nào đi nữa thì yếu tố quan trọng là thứ tự đó phải được giữ nguyên trong tất cả các trường hợp ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt.

4. Độ dày lớp mực

Ngoài việc ảnh hưởng đến các thuộc tính của màu sắc, độ dày lớp mực còn ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác như khả năng khô và sự lột giấy. Những lớp mực quá mỏng có thể gây ra nên những vấn đề về lột giấy và tạo ra các mảng màu không đều đặn.

Các yếu tố về chất lượng hình ảnh bị ảnh hưởng bởi độ dày của lớp mực được liệt kê dưới đây. Những yếu tố về sự gia tăng tầng thứ và sự truyền mực do sự thay đổi độ dày lớp mực được liệt kế riêng.

  • Độ bão hòa màu: Việc gia tăng độ dày lớp mực thường tạo nên một màu sậm hơn (độ sáng thấp hơn), tông màu và độ bão hòa có thể thay đổi khi độ dày lớp mực cao hơn. Ví dụ độ dày lớp mực Magenta cao hơn làm chuyển tông màu của nó đỏ bầm. Các lớp mực Cyan có độ dày cao hơn làm cho màu đó mất độ bão hòa và trở nên xám hơn. Độ bão hòa và tông màu của các màu tương đối thuần khiết như màu Vàng cho thấy có rất ít thay đổi khi thay đổi độ dày lớp mực.

Sự chuyển đổi tông màu có thể được lý giải bằng cách tham chiếu sự dư tông và thiếu tông của mực. Dư tông là màu của một lớp mực đủ dày để trở nên đục hoàn toàn. Thiếu tông là màu của một lớp mực mỏng đủ để trở nên khá trong suốt. Màu của một lớp mực in bình thường là sự kết hợp của dư tông và thiếu tông. Hiệu ứng của dư tông trở nên mạnh hơn nếu in với một lớp mực dày hơn bình thường. Thiếu tông sẽ xảy ra khi in với một lớp mực mỏng hơn bình thường. Ví dụ, một màu Magenta nếu in dày sẽ có màu đỏ bầm, nếu in mỏng sẽ có màu hồng nhạt.

Một ví dụ xa hơn về sự chuyển đổi màu do độ dày lớp mực có thể được minh hoa bằng cách xem xét những tỷ lệ phản xạ của một loại mực Magenta. Độ dày lớp mực bình thường của màu Magenta phản xạ khoảng khoảng 90% ánh sáng Đỏ cờ tới nó và 30% ánh sáng Xanh tím. Tỉ lệ Đỏ cờ / Xanh tím là 3/ 1.  Nếu lớp mực có độ dày gấp đôi thì độ dày bình thường; độ phản xạ thuần của tia tới màu Đỏ cờ là 90% của 90% (hay 81%). Sự phản xạ trong vùng Xanh tím giảm xuống 30% của 30% (hay xuống 9%) của tia tới màu Xanh tím. Lúc này tỉ lệ màu Đỏ cờ so với màu Xanh tím là 9/1.

  • Độ bóng: Lớp mực càng dày độ bóng càng cao.
  • Độ sai lệch màu: Khi thay đổi độ dày lớp mực các màu tầng thứ có thể biến đổi khác với những màu tông nguyên tương ứng. Các màu tạo bởi sự pha trộn tầng thứ có khuynh hướng bẩn hơn các màu tông nguyên. Hiệu ứng này đáng chú ý hơn khi in với độ phân giải tram thấp.
  • Độ sắc nét: Gia tăng độ dày lớp mực sẽ làm tăng độ tương in và do đó làm tăng độ sắc nét của hình ảnh. Có thể tăng hoặc giảm độ dày của lớp mực trong in bằng cách mở lưỡi dao gạt mực, tăng tốc độ vòng quay của  lô lấy mực hoặc tăng mức độ thường xuyên dao độn của lô lấy mực hoặc tăng mức độ thường xuyên dao động của lô truyền mực. Đối với in ống đồng thì có thể tăng độ dày lớp mực trên máy in bằng cách hạ góc tiếp xúc của lưỡi dao gạt mực, dùng một lưỡi dao gạt mực dày hơn hoặc cùn hơn. Các phần tử in được khắc sâu hơn cũng tạo ra độ dày lớp mực cao hơn. Trong in flexo, độ thô của trục Anilox, việc điều chỉnh lưỡi dao gạt mực (giống như in ống đồng), độ dẻo của mực, cấu tạo bản in, áp lực in và độ mềm của trục lăn mực, tất cả đều ảnh hưởng đến độ dày lớp mực. Độ dày lớp mực có thể đạt được nhiều hơn trong in lụa bằng cách dùng lưới lụa dày hơn, tăng áp lực dao gạt cao su, dùng lưỡi dao gạt mực bằng cao su mềm hơn, để góc gạt mực của dao gạt thấp hơn, độ căng của lụa thấp hơn, tốc độ kéo dao gạt cao su thấp hơn và độ bén của dao gạt cao su thấp hơn.

Độ dày lớp mực

Rất khó xác định độ dày lý tưởng cho một loại mực. Một số người đề nghị sử dụng mật độ tông nguyên và mật độ của tầng thứ 75% để có được một độ tương phản in tốt. Người ta dùng công thức sau:

 

Độ tương phản in = 100% (Ds-Dt)/ Ds

 

Trong đó Ds là mật độ của màu tông nguyên, Dt là mật độ của tầng thứ 75%. Dãy tỉ lệ tương phản cho in tốt là từ 28% – 30%. Công thức này có thể giúp cân bằng các độ dày khác và từ máy in này sang máy in khác, nhưng không nhất thiết phải dẫn đến việc tạo ra một độ dày lớp mực lý tưởng.

Preucil đề nghị xem xét đến hiệu của màu trực giác đối với một loại mực nào đó khi chọn độ dày lớp mực. Nó được xác định bằng cách đo mật độ lớp mực in qua các kính lọc màu Đỏ cờ, Xanh tím, và Xanh lục. Giá trị mật độ thấp nhất Dmin của những chỉ số này được chia cho giá trị mật độ cao nhất Dmax để tính độ xám của Preucil. Các mật độ in tối ưu theo khái niệm về hiệu quả màu trực giác. Mật độ lý tưởng ở nơi mà đường cong cho một giá trị độ xám đạt tới đỉnh điểm.

Ngoài ra còn một phương pháp để xác định độ dày lớp mực của F.L.Cox (Gatf). Độ chính xác của hương pháp này sẽ bị ảnh hưởng bởi sự truyền mực và các yếu tố khác về lỗi tổng hợp màu cộng. Trong thực tê, những hướng dẫn trên thường không mấy hữu dụng. Bởi vì đọ dày lớp mực ảnh hưởng quá nhiều đến các yếu tố chất lượng in, một thay đổi có lợi cho một yếu tố này thì lại bất lợi cho yếu tố khác. Thậm chí nếu chỉ xét các yếu tố về màu sắc thì điều này vẫn đúng. Điều này giải thích tại sao các nhận viên vận hành máy in hay có thói quen điều chỉnh độ dạy lớp mực và thứ tự chồng màu để làm tăng sự thể hiện của một ấn phẩm.

Mặc dù không thể xác định mật độ tối ưu của các khối màu in do không biết độ dày lớp mực tối ưu, nhưng điều này không có nghĩa là các nhà máy in không nên thiết lập một tiêu chuẩn tham chiếu nội bộ. Một tiêu chuẩn nội bộ rất hữu ích để tạo ra các thông số cho quá trình chế bản.

Các mật độ chuẩn sẽ lệ thuộc vào độ mịn của bề mặt in và sự tập trung chất màu của mực. Cả hai thuộc tính này càng cao thì mật độ đạt được càng cao. Trong quá trình in, nhân viên vận hành máy in có thể kiểm soát được: mật độ, tông màu và độ bão hòa của các màu tông nguyên cũng như các màu tầng thứ, độ bóng, sự gia tăng tầng thứ, độ sắc nét và sự truyền mực. Tất cả những yếu tố này có thể bị ảnh hưởng khi độ dày lớp mực thay đổi.

Độ dày lớp mực tốt nhất sẽ giúp tránh được những vấn đề như bóc mực hoặc lột giấy và giúp cho quá trình in ổn định. Nghĩa là sẽ có một sự sắp xếp sao cho độ dày lớp không quá dày hoặc quá mỏng để tạo ra các điều kiện in có khả năng phục chế cao nhất.

5. Sự truyền mực

Sự truyền mực hay trapping nghĩa là chuyển một lớp mực lên một lớp đã được in trước đó. Tỉ lệ truyền mực là tỉ lệ giữa khả năng mực phủ lên được trên một lớp mực in, ví dụ sự truyền mực 80% nghĩa là độ dày lớp mực của mực in thứ hai trên lớp mực in đầu là 80% so với độ dày lớp mực thứ hai trên một bề mặt giấy chưa in.

Các từ như ướt chồng ướt và ướt chồng khô nói đến việc lớp mực thứ hai chồng lên lớp mực trước đó còn ướt hay đã khô. Trong in một màu người ta in ướt chồng khô trong in 4 màu là ướt chồng ướt và in 2 màu là ướt chồng khô lẫn ướt chồng ướt.

Trong các điều kiện thông thường, việc truyền mực không đủ thường xảy ra. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc truyền mực bao gồm:

  • Độ tách dính của mực (độ sệt): Để tạo điều kiện dễ dàng cho việc chuyển một lớp mực này lên một lớp mực này lên một lớp mực khác được in trước đó thì độ sệt của mực đang được in nên thấp hơn độ sệt của các loại mực đã in trước. Nếu như độ sệt của lớp mực thứ hai cao hơn lớp mực thứ nhất thì có thể xảy ra hiện tượng mực bị truyền ngược, tức là một ít mực in đầu tiên có thể bị mực in lần hai kéo ra khỏi giấy và truyền ngược về máng mực của nó. Ví dụ khi in màu Magenta có độ sệt cao lên trên màu Vàng có độ sệt thấp hơn thì có nhiều khả năng màu Vàng có độ sệt thấp hơn thì có nhiều khả năng màu Vàng bị màu đỏ lột ra và truyền ngược về máng mực màu đỏ khiến nó ngả sang màu cam.

  • Độ dày lớp mực: Nếu độ dày của lớp mực in đầu tiên cao hơn nhiều so với độ dày lớp mực in lần hai thì có thể dẫn đến hiện tượng truyền mực không đủ. Giả sử như một bộ mực có độ tách dính giảm dần theo thứ tự in đang được sử dụng thì độ dày lớp mực của tất cả các màu nên bằng màu. Để truyền mực tốt nhất, độ dày lớp mực nên gia tăng một ít từ đơn vị 1 đến đơn vị 4, đồng thời độ tách dính của các lớp mực in sau nên giảm tương ứng.
  • Nhiệt độ mực: Sự gia tăng nhiệt độ làm giảm độ tách dính của một loại mực do đó tác động đến khả năng truyền mực của nó. Tất cả các loại mực nên được giữ ở cùng một nhiệt độ.
  • Thời gian giữa các lần in: Thời gian ngưng giữa các lần in đầu và lần thứ hai càng dài bao nhiêu, thì càng có nhiều thời gian cho lớp mực đầu tiên khô bấy nhiêu. Độ tách dính của lớp mực in sẽ bắt đầu tăng khi nó bắt đầu khô. Sự gia tăng độ tách đính tạo điều kiện cho sự truyền mực của các màu sau. Sấy khô hoặc sấy một phần lớp mực đầu tiên giữa các lần in cũng giúp cải thiện việc truyền mực. Nếu thời gian giữa những lần in trôi qua quá lâu (ví dụ như khi một ấn phẩm 4 màu đang được in trên một máy in một màu) thì những vấn đề về truyền mực khô sẽ xảy ra. Khi đó nhiều chất phụ gia trong loại mực đầu tiên (ví dụ như các chất sáp) có thể chuyển lên bề mặt in và đóng vai trò như một rào cản đối với loại thực thứ hai.
  • Cân bằng mực – nước: Trong in offset, lượng nước làm ẩm có thể ảnh hưởng đến độ tách dính mực và sau đó là sự truyền mực. Nếu có quá nhiều nước thì độ tách dính của mực sẽ giảm. Nếu nước cho vào không đủ thì độ tích đỉnh của mực sẽ tăng (trong các loại mực in, lượng nước chiếm khoảng 40%). Việc duy trì sự cân bằng mực – nước chính xác cho tất cả các màu là rất quan trọng giúp tránh được hiện tượng bông tuyết và cặn dơ trong dung dịch máng nước.
  • Độ hấp thụ của giấy: Bề mặt in càng thấm hút bao nhiêu thì sự thâm nhập của chất dẫn mực vào bề mặt in càng nhanh bấy nhiêu. Việc này đã gây nên một sự gia tăng về độ tách tính của lớp mực tạo điều kiện cho việc truyền mực của các loại mực kế tiếp.
  • Độ phủ mực trên khuôn in: Khi tất cả các yếu tố khác không đổi thì mực trên khuôn in với độ phủ mực thấp thường có khuynh hướng bị tăng độ tách dính. Hiện tượng này được giải thích như sau: khi in với khuôn in cán ít mực thì mực trên các lô mực sẽ chuyển xuống khuôn chậm hơn khi in với các khuôn đòi hỏi độ phủ mực lớn. Mực càng nằm lâu trên các lô mực thì sự bốc hơi hay polymer hóa chất dẫn càng nhiều nên khi mực xuống đến bản thì độ tách dính cao hơn. Để tránh vấn đề này khi in trên các khuôn in cần độ phủ mực thấp ta nên dùng các loại mực có độ tách dính thấp. Ngược lại, các khuôn in Có các vùng hình ảnh đòi hỏi độ phủ mực lớn thì phải có lực tách dính mực từ giấy cao hơn các khuôn in yêu cầu độ phủ mực thấp.
  • Đo sự truyền mực. Phương pháp đo sự truyền mực tiện lợi nhất là đo mật độ của lớp mực in đầu tiên, mật độ của lớp mực thứ hai và mật độ tại nơi 2 màu in chồng lên nhau bằng kính lọc dành cho màu của lớp mực in sau. Ví dụ, nếu magenta là lớp mực xuống lần hai thì các chỉ số được lấy qua kính lọc Xanh lục. Máy đo mật độ được cân chỉnh về zero trên bề mặt tờ in trước khi đo. Tỉ lệ truyền mực được tính theo phương trình Preucil:

 

Tỉ lệ truyền mực thực tế = 100% (Dop–D1)/ D2

 

Trong đó D1 là mật độ của lớp lực đầu tiên, D2 là mật độ của lớp mực thứ hai và Dop là mật độ tại nơi 2 màu chồng lên nhau.

Phương pháp đánh giá sự truyền mực bằng mật độ kể không đưa ra các số đo chính xác về độ dày lớp mực. Điều này xảy ra do ảnh hưởng của các yếu tố sau: độ bóng và phản xạ của bể mặt, phản xạ nội tại đa phương, độ đục của lớp mực thứ hai, sự hồi chuyển của các lớp mực và độ cảm nhận phổ của máy đo mật độ. Đặc biệt là việc sử dụng các kính lọc băng tần hẹp 540 với các kính lọc băng tần rộng trong các máy đo mật độ sẽ ảnh hưởng đến các tính toán về sự truyền mực. Một sự truyền mực 100% thường dao động giữa 95% và 105% hoặc trong vài trường hợp còn nằm ngoài những giới hạn này.

Do ảnh hưởng của độ dày lớp mực nên việc truyền mực tối ưu có thể phụ thuộc vào một ấn phẩm nhất định. Trong thực tế, đạt được sự truyền mực 100% là bình thường nhưng các giá trị có thể chấp nhận được về mặt thương mại nằm trong khoảng từ 75 đến 90% ngày càng quen thuộc khi in ướt chồng ướt. Hơn nữa, tính ổn định của sự truyền mực quan trọng hơn việc đạt được một giá trị tuyệt đối nào đó.

Lục giác màu GATF là một biểu đồ tốt để tìm hiểu về những thay đổi sự truyền mực. Mật độ của các lớp mực in chồng lên nhau được vẽ trên biểu đồ. Sự khác biệt giữa tờ in thử và thật thường được so sánh trên loại biểu đồ này.

Để đạt được sự truyền mực tốt người ta thường khuyến cáo nên. dùng các loại mực có độ sệt giảm dần. Nghĩa là loại mực in đầu có thể có độ sệt cao nhất mà không bị bóc giấy, các loại mực sau đó có một độ sệt thấp hơn khoảng hai điểm. Ví dụ loại mực xuống đầu tiên có độ sệt là 18 và các loại mực sau có giá trị lần lượt là 16, 14 và 12.

 

 

 

 

6. Sự gia tăng tầng thứ và các yếu tố có liên quan

Để truyền mực sang bề mặt in cần phải dùng một áp lực vì mực là một chất lỏng nên áp lực này không chỉ nén mực vào bề mặt in mà còn là làm cho nó lan ra các phía. Do cần áp lực để truyền mực nên mực cũng bị phân tán gây nên sự gia tăng tầng thứ.

Trạng thái của các điểm trame qua các công đoạn

Sự thay đổi kích thước điểm tram dẫn đến sự gia tăng tầng thứ

 

+ Sự gia tăng tầng thứ: Là một phần của sự biến dạng các hạt tram. Các dạng khác là kéo dịch và đúp nét. Kéo dịch là sự biến dạng có định hướng của điểm tram, một điểm tram tròn trên bản kẽm có dạng gần giống như hình bầu dục khi truyền lên giấy. Đúp nét là hiện tượng khi in hạt tram sẽ có một bóng của nó nằm lệch một bên và nhạt hơn nó.

Mặc dù có thể loại bỏ kéo dịch và đúp nét nhưng ở mức độ nào đó nhưng sự gia tăng tầng thứ luôn xuất hiện.

Bảng liệt kê dưới đây cho thấy các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự biến dạng điểm tram:

+ Độ dày lớp mực: lớp mực càng dày khi sự gia tăng tầng thứ càng nhiều.

+ Áp lực in: Áp lực in càng lớn thì sự gia tăng tầng thứ càng nhiều, áp lực có thể điều chỉnh bằng nhiều cách như lót lại kẽm và tấm cao su.

+ Tấm cao su: Loại cao su chịu nén làm biến dạng điểm tram ít hơn những tấm cao su thường và tạo ra sự gia tăng tầng thứ ít hơn.

+ Sự cân bằng mực – nước: Trong in offset, cấp nước nhiều quá làm cho mực trở nên nhiễm nước. Hiện tượng này cũng làm cho gia tăng tầng thứ nhiều hơn.

+ Độ căng của bản kẽm và cao su: Nếu độ căng không đủ thì đúp nét có thể xẩy ra.

+ Tốc độ in: Tốc độ in tăng có khuynh hướng làm giảm sự gia tăng tầng thứ nếu máy in đang ở trong điều kiện tốt và có thể điều chỉnh được.

+ Các yếu tố về giấy: Các loại giấy càng mịn, tráng phấn càng nhiều cho thấy gia tăng tầng thứ càng ít. “Các yếu tố về mực: Các loại mực có độ tách dính càng cao và nồng độ sắc tố càng cao thì gia tăng tầng thứ càng ít.

Các yếu tố thích hợp với các quy trình được liệt kê dưới đây:

+ In ống đồng: Sự biến dạng điểm tram trong in ống đồng giống như sự lan trải điểm tram. Sự lan trải chủ yếu là do hoạt động mao dẫn của giấy. Dung lượng của ổ chứa mực càng lớn, độ dẻo của mực càng thấp thì sự lan trải điểm tram càng để xảy ra.

In flexo: Sự gia tăng tầng thứ trong in flexo gồm các yếu tố của in ống đồng và in offset. Ngoài ra lưới điểm trên trục anilox càng thô thì sự gia tăng tầng thứ càng nhiều. Tương tự, góc tiếp xúc lưỡi dao gạt thấp hơn sẽ làm gia tăng tầng thứ cao hơn. Những yếu tố khác làm tăng tầng thứ bao gồm các lưỡi gạt mực dày hơn và các trục lăn truyền mực bằng cao su mềm hơn.

+ In lụa: Những yếu tố gia tăng tầng thứ trong in lụa là các yếu tố chỉ có liên quan đến quy trình này mà thôi. Lưới lụa dày hơn và áp lực dao gạt cao su có khuynh hướng làm tăng tầng thứ. Các dao gạt bằng cao su mềm hơn, góc gạt mực và tốc độ in thấp hơn, độ dẻo của mực thấp hơn sẽ làm tăng tầng thứ. Nếu đầu của dao gạt cao su làm tròn thay vì sắc và nếu độ căng của lưới lụa hay độ phân giải tram thấp thì dễ làm tăng tầng thứ.

Xác định độ biến dạng điểm tram qua: các ô hình sao (ô kiểm tra hình sao của thang GAFT) – từ đây ta có thể thấy rõ nguyên nhân gây nên sự biến dạng điểm tram, đó có thể là gia tăng tầng thứ, kéo dịch hoặc đúp nét. Một phương pháp khác nữa là thông qua việc sử dụng các số đo mật độ. Tiêu biểu là mật độ đo từ các giá trị tông nguyên và tông tram của một bản in, điện tích điểm tra được tính bằng cách dùng phương trình Muray – Davies hoặc phương trình Yule – Nielsen là hệ quả của phương trình này. Một số máy đo mật độ được lập trình sẵn các phương trình này để dễ tính diện tích điểm tram.

Một vấn đề về biến dạng điểm tram nữa là độ gai (graininess) nó xuất hiện khi sự gia tăng tầng thứ khá cao. Các dải tram không đều có liên quan nhiều đến độ biến dạng của chi tiết ảnh chứ không phải giá trị tông.

 

Minh họa các vi ảnh từ trái sang phải độ gia tăng dần

 

Nói chung, giảm thiểu độ biến dạng điểm tram là cần thiết, nhưng một số phương pháp được sử dụng để giảm độ biến dạng điểm tram có thể gây ra những hệ quả không mong muốn. Ví dụ, nếu giảm độ dày lớp mực thì sẽ giảm luôn độ biến dạng điểm tram và hệ quả không đáng có là mật độ màu tối đa cũng bị giảm. Nếu bổ sung vào mục các sắc tố để có thể đạt được mật độ cao với một lớp mực mỏng thì các thuộc tính truyền mực có thể bị ảnh hưởng đến mức làm cho mực không thể sử dụng được. Một giải pháp cho in offset là sử dụng một tấm cao su chịu nén thay vì tấm cao su thường. Tuy nhiên sự thay thế này có thể không thoả mãn khi in các khối màu lớn chẳng hạn như khi các nhãn hàng.

Áp lực in, mức độ nạp mực và những yếu tố khác nên được điều chỉnh để giảm thiểu hay loại trừ độ gai, kéo dịch và đúp nét. Nên xem sự gia tăng tầng thứ như một lỗi cần sửa chữa, nhưng đúng hơn là một đặc tính của mực, chất liệu in, bản kẽm, tấm phủ và máy in đang được sử dụng. Khi sự gia tăng tầng thứ trở nên ổn định ta xác định đặc tính của nó và bù trừ trong quá trình chế bản. Nghĩa là nếu một máy in tạo một điểm tram 50% trên phim thành một điểm tram 60% trên tờ in thị các phim sau có thể được điều chỉnh để chúng có giá trị điểm tram thấp hơn 10% tại điểm đó. Thang kiểm tra tầng thứ Wedge của GATF được chế tạo để giúp mô tả độ lệch tông trên máy in.

 

Nguồn: Sách Lý thuyết màu – PGS-TS. Ngô Anh Tuấn

Chia sẻ

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

ỨNG DỤNG CỦA DECAL BẾ TRONG CUỘC SỐNG HIỆN NAY

Chắc hẳn, dịch vụ in decal vốn đã thân thuộc với nhiều người . Tuy nhiên, để thực sự hiểu và hiểu sâu về dịch vụ này lại không phải  chuyện đơn giản. Nó phụ thuộc  vào sự hiểu biết, kinh nghiệm và thông tin mà bạn nắm bắt được hãy cùng Phúc Lộc An tìm hiểu thêm về decal bế nhé.

CÔNG NGHỆ IN GIẤY CRYSTAL TRONG NGÀNH IN ẤN HIỆN NAY

Với nhiều thế mạnh nổi bật, giấy Crystal là một trong những dòng giấy được dùng phổ biến trong ngành in ấn. Đặc biệt là lĩnh vực in ảnh thẻ, ảnh kỷ yếu. Trong bài viết dưới đây, Phúc Lộc An sẽ giúp các bạn tìm hiểu thêm về công nghệ in giấy Crystal trong ngành in ấn hiện nay nhé.

GIẤY DUPLEX LÀ GÌ ?ƯU ĐIỂM CỦA GIẤY DUPLEX

Giấy Duplex là 1 loại giấy khá đa dạng trong in ấn. Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu rõ về đặc tính cũng như ứng dụng của loại giấy này. Nếu bạn cũng đang có ý định in ấn cũng như sử dụng đến giấy Duplex thì hãy cùng mình tìm hiểu bài viết dưới đây nhé.

GIẤY COUCHE LÀ GÌ ? CÁC LOẠI GIẤY COUCHE HIỆN NAY

Giấy Couche là loại giấy dùng trong in ấn được dùng rộng rãi nhất hiện nay ,tại các shop in ấn, văn phòng, cơ quan, cá nhân, trường học,... Đây là mẫu giấy sở hữu bề mặt láng mịn và sáng bóng được mọi người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng mang lại yêu thích với chi phí bỏ ra. Vậy Giấy Couche là gì? Các loại giấy Couche hiện nay hãy cùng Phúc Lộc An tìm hiểu về nó nhé.

CÔNG DỤNG CỦA GIẤY IVORY TRONG CUỘC SỐNG HIỆN NAY.

Chất liệu giấy ivory có hai mặt giấy khác nhau với sự thuận tiện khi sử dụng, in ấn những mặt hàng, sản phẩm phục vụ nhu cầu đóng gói, đựng hàng hóa. Bề mặt láng mịn giúp cho những thông tin được biểu đạt rõ nét, màu sắc đẹp ấn tượng, bắt mắt, lôi kéo sự quan tâm của người dùng.Để biết biết thêm thông tin về giấy Ivory hãy cùng Phúc Lộc An tìm hiểu bài viết sau đây nhé.

ỨNG DỤNG GIẤY BRISTOL TRONG CUỘC SỐNG HIỆN NAY

Ngày nay các nhãn hàng cao cấp luôn lựa chọn hàng đầu lúc in hộp giấy, túi giấy, card visit,… là dòng giấy Bristol. Đây là loại giấy in cao cấp phổ biến nhất trên thị trường hiện nay. Trong ngành in giấy thật sự rộng rãi và vô cùng khó để phân biệt đối với những người không có chuyên môn thế nên hãy cùng Phúc Lộc An cùng tìm hiểu về nó nhé.